Glocom là bệnh thường gặp, và cũng là nguyên nhân chủ yếu gây mù lòa vĩnh viễn. Vì thế cần phát hiện sớm và điều trị glocm giúp mắt tránh được hậu quả đáng tiếc.

Bệnh Glocom là gì?

Glocom là bệnh khá phổ biến ở Việt Nam. Bệnh gây đau nhức và mất thị lực vĩnh viễn không thể hồi phục. Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng thu hẹp thị trường, teo lõm gai thị giác và tăng nhãn áp.

Có 2 thể bệnh glocom: góc đóng và góc mở. Tuỳ thuộc vào cơ chế gây bệnh mà người ta đưa ra các phương pháp điều trị khác nhau: điều trị thuốc, điều trị laser, điều trị phẫu thuật. Tuy nhiên, tất cả các phương pháp điều trị hiện nay đều nhằm mục đích làm hạ nhãn áp thông qua đó làm giảm đau và duy trì được phần thị lực còn lại của bệnh nhân.

Thông thường phương pháp điều trị được lựa chọn phải có hiệu quả nhất với ít tác dụng phụ nhất và ít gây trở ngại cho bệnh nhân nhất.

Để điều trị bệnh glocom có hai phương pháp chính là thuốc và phẫu thuật (bao gồm cả laser). Cả hai biện pháp này chỉ làm ổn định bệnh, không cho bệnh tiến triển thêm và duy trì ổn định, chứ không thể chữa khỏi dứt điểm bệnh glocom.

Tùy từng trường hợp bệnh mà bác sĩ sẽ tư vấn điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật, vì mỗi biện pháp lại có một ưu, nhược điểm riêng.

Lưu ý khi điều trị bệnh Glocom

Mục đích điều trị

Duy trì chức năng thị giác cho bệnh nhân được ổn định lâu dài, đảm bảo chất lượng cuộc sống. Cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

Hạ nhãn áp về mức an toàn

Cho đến nay, hạ nhãn áp vẫn là biện pháp tin cậy nhất trong điều trị glocom. Các biện pháp như tăng cường tưới máu cho đầu dây thần kinh thị giác, bảo vệ nơ ron thần kinh chỉ được coi là biện pháp hỗ trợ. Các biện pháp điều trị hạ nhãn áp phải đưa nhãn áp về mức không gây thêm tổn thương cho chức năng thị giác hay gọi là nhãn áp đích. Thông thường nhãn áp đích được xác định như sau:

– Glocom giai đoạn sớm: Nhãn áp đích ≤ 18 mmHg

– Glocom giai đoạn tiến triển: nhãn áp đích ≤ 16 mmHg

– Glocom giai đoạn cuối: nhãn áp đích ≤ 14 mmHg

Đồng thời nhãn áp đích phải đạt được sự ổn định, giao động trong ngày ≤ 4mmHg. Khi xác định nhãn áp đích còn phải cân nhắc đến các yếu tố nguy cơ như bệnh nhân tuổi cao, tiền sử gia đình.

Xem thêm: Hỗ trợ điều trị Glocom bằng cách thay đổi lối sống

Những bệnh nhân nhãn áp không cao cần hạ được 30% trị số nhãn áp ban đầu. Nhãn áp đích không phải là trị số cố định áp dụng chung cho mọi trường hợp.

Một số trường hợp bệnh glocom vẫn tiến triển mặc dù đã đạt được nhãn áp đích, ngược lại một số trường hợp chức năng thị giác vẫn duy trì ổn định dù không đạt được nhãn áp đích. Do đó cần đích sau khoảng 6-12 tháng điều trị.

Nếu bệnh vẫn tiến triển, cần tiếp tục hạ nhãn áp đích xuống thêm khoảng 2 mmHg. Nếu bệnh ổn định nhưng có biểu hiện tác dụng ngoại ý của thuốc có thể xem xét giảm liều nhưng cần theo dõi chặt chẽ chức năng thần kinh thị giác.

Sử dụng thuốc với liều thấp nhất có thể

Các thuốc hạ nhãn áp ít nhiều đều có tác dụng phụ tại chỗ và toàn thân. Nguy cơ càng tăng khi dùng thuốc kéo dài, do vậy cần dò tìm liều thuốc thấp nhất bảo đảm duy trì nhãn áp đích.

Điều trị đúng nguyên nhân

Xác định chính xác cơ chế gây tăng nhãn áp trên mỗi bệnh nhân cụ thể để có biện pháp điều trị thích hợp. Nếu tăng nhãn áp do nghẽn đồng tử cần laser mở mống mắt, nếu do viêm màng bồ đào phải chông viêm, nếu glocom tân mạch cần quang đông võng mạc, tiêm Avastin nội nhãn, nếu tăng nhãn áp do lạm dụng thuốc corticoid cần phải ngưng thuốc ngay.

Lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp nhất

Điều trị glocom có thể dùng thuốc, laser hoặc phẫu thuật. Lựa chọn phương pháp điều trị nào phải dựa trên hình thái bệnh, giai đoạn bệnh và đáp ứng của từng trường hợp cụ thể.

Ngoài ra cũng cần lưu ý đến yếu tố kinh tế, xã hội, địa lí. Ví dụ một bệnh nhân ở xa, hoàn cảnh kinh tế không cho phép hoặc bệnh nhân không tuân thủ điều trị thì cần cân nhắc chỉ định phẫu thuật.

Xem thêm: Một số liệu pháp hỗ trợ điều trị glocom góc mở

Theo dõi bệnh nhân chặt chẽ

Bệnh glocom vẫn có thể tiến triển ngay cả khi bệnh nhân được điều trị đúng cách. Do vậy, bệnh nhân cần được lập hồ sơ theo dõi suốt đời, khám định kì 3-6 tháng một lần. Cần theo dõi qua trình điều trị với những đánh giá nhãn áp, thị trường, tình trạng gai thị trước và trong suốt qua trình điều trị.

Theo dõi còn giúp đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Việc điều trị không thể đạt kết quả như ý nếu bệnh nhân không tuân thủ nghiêm ngặt chế độ dùng thuốc và kiểm tra định kì theo hẹn.

Các phương pháp phổ biến trong điều trị Glocom

Điều trị glocom phải xác định chính xác thể bệnh, bởi phương pháp điều trị của mỗi thể bệnh là khác nhau.

Glocom góc đóng cơn cấp là một cấp cứu nhãn khoa, việc điều trị phải tiến hành khẩn trương, tích cực để hạ nhãn áp, giảm đau và an thần cho bệnh nhân:

Tại mắt: tra pilocarpin 1% – 2% 1h/lần, duy trì đến khi nhãn áp hạ thì tra 3 – 4 lần/ngày.

Acetazolamid 0,25 g, uống 2 – 4 viên trong 24h.

Nếu bệnh nhân nôn nhiều không uống được thì tiêm tĩnh mạch Diamox 500 mg x 1 ống.

Các thuốc trên phải được bác sĩ chỉ định và theo dõi sát sao việc sử dụng thuốc của bệnh nhân.

Điều trị nội khoa chỉ giải quyết tình trạng cấp cứu nhãn khoa nhằm bảo tồn thị lực cho bệnh nhân. Với glocom góc đóng thường cần tới điều trị phẫu thuật. Phương pháp phẫu thuật được lựa chọn phải thích hợp với mức độ và giai đoạn của bệnh.

Hiện nay có 3 phương pháp mổ glocom đang được sử dụng phổ biến. Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm nhất định, bệnh nhân sẽ được bác sĩ thăm khám, tư vấn và chỉ định cụ thể.

Mổ glocom bằng phương pháp cắt bè củng giác mạc: đây là phương pháp ra đời rất sớm, bác sĩ sẽ tiến hành cắt bỏ một phần bè củng giác mạc và mống mắt tạo đường thoát cho thủy dịch, làm ổn định áp suất trong mắt.

Mổ glocom bằng phương pháp cấy ghép ống thoát thủy dịch: sử dụng một chiếc ống có chiều dài khoảng 1,3 cm từ chất liệu silicon làm ống thoát thủy dịch ghép vào mắt bệnh nhân. Phương pháp này có một số hạn chế, như sau mổ bệnh nhân khá khó chịu do phải băng mắt, và thời gian theo dõi cần tới vài tuần.

Mổ glocom bằng laser: đây là phương pháp không cần sử dụng dao kéo, bác sĩ sử dụng tia laser chiếu vào khu vực bè giác mạc – khu vực thoát thủy dịch, tạo ra khoảng 100 lỗ nhỏ nhằm thoát thủy dịch của mắt. Toàn bộ quá trình rất nhanh chóng (chỉ mất 15 – 20 phút), đem lại hiệu quả cao, ít biến chứng.

Mổ glocom bằng laser là bước tiến lớn của y học hiện đại, đang được áp dụng rất phổ biến. Sau khi mổ glocom bằng laser, trong khoảng 2 – 5 năm tiếp theo người bệnh cần được theo dõi, đề phòng trường hợp bệnh tái phát.

Glocom góc mở cần điều trị với mục đích là hạ nhãn áp xuống dưới mức gây tổn hại cho thị thần kinh và chức năng thị giác. Phương pháp điều trị phải an toàn nhất, ít ảnh hưởng nhất đến cuộc sống của bệnh nhân.

Các thuốc tra tại chỗ điều trị glocom góc mở có khá nhiều, như: nhóm huỷ beta-adrenergic, nhóm cường adrenergic, nhóm cường cholinergic, nhóm prostaglandin.

Bác sĩ sẽ chỉ định thuốc phù hợp, tuy nhiên bệnh nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt liệu trình điều trị trong suốt cuộc đời dưới sự theo dõi định kỳ của bác sĩ. Nếu điều trị nội khoa không mang lại kết quả, bệnh nhân sẽ cần đến các phương pháp phẫu thuật.

Mục đích điều trị glocom là nhằm ngăn chặn bệnh không tiếp tục tiến triển gây tổn thương thần kinh thị giác. Bệnh nhân sau khi phẫu thuật nên đi kiểm tra mắt, theo dõi nhãn áp 3 tháng/lần trong năm đầu tiên, sau đó định kỳ 6 – 12 tháng/lần.

Với bệnh nhân điều trị glocom góc mở bằng thuốc tra tại mắt, phải khám và tiến hành theo dõi nhãn áp 2 tháng/lần, kiểm tra thị trường và soi đáy mắt 3 – 6 tháng/lần. Theo dõi điều trị là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả cuối cùng.

Trong nhiều trường hợp, glocom tuy đã được phát hiện và điều trị, song người bệnh cho rằng đã khỏi hẳn nên không đi khám tại các bệnh viện mắt chuyên khoa, theo dõi tiếp, hậu quả là bệnh tiếp tục âm ỉ tiến triển dẫn tới mất hoàn toàn thị lực.

Vì vậy, bệnh nhân cần tuân thủ theo dõi định kỳ từ khi phát hiện bệnh, kiên trì điều trị suốt đời nhằm kiểm soát diễn biến bệnh, bảo tồn được thị lực của mình.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here