Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc hay còn gọi là gián đoạn dẫn lưu tĩnh mạch bình thường từ mô võng mạc. Trong võng mạc gần chỗ tắc nghẽn, hệ tĩnh mạch bị ảnh hưởng có đặc điểm là chạy quanh co và giãn nở, có một vài chỗ xuất huyết trong võng mạc và phù nề võng mạc.

Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc là gì?

Võng mạc là lớp mô nhạy cảm với ánh sáng lót ở bề mặt trong của mắt. Chuyển đổi hình ảnh thị giác sang tín hiệu điện và gửi đến não bộ thông qua thần kinh thị giác. Tĩnh mạch võng mạc có nhiệm vụ vận chuyển máu từ võng mạc trở về tim.

Tĩnh mạch trung tâm võng mạc chạy dọc trong dây thần kinh thị giác. Các tĩnh mạch võng mạc nhỏ hơn chạy dọc theo lớp trong của võng mạc để dẫn máu vào tĩnh mạch trung tâm võng mạc.

Tắc tĩnh mạch võng mạc là bệnh lý mạch máu võng mạc có thể gây giảm sút thị lực trầm trọng, thậm chí có thể gây mù do những biến chứng nặng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Các dạng tắc tĩnh mạch võng mạc

Bệnh tĩnh mạch võng mạc là bệnh một trong các tĩnh mạch nhỏ tại võng mạc bị tắc nghẽn bởi huyết khối. Nếu tĩnh mạch bị tắc nghẽn dẫn lưu máu vùng hoàng điểm thì bệnh nhân sẽ bị phù hoàng điểm và gây giảm thị lực.

Có hai dạng bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc:

Tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc nơi tắc nghẽn xảy ra ở một trong 4 nhánh tĩnh mạch võng mạc. Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc nhánh chiếm khoảng 30% trong tổng số các ca tắc tĩnh mạch.

Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc là nơi tắc nghẽn xảy ra ở nhánh tĩnh mạch chính tạo bởi sự hội tụ của 4 nhánh tĩnh mạch võng mạc. Khoảng 90% trường hợp tắc tĩnh mạch võng mạc trung tâm gặp ở người 50 tuổi trở lên.

Nguyên nhân gây bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc

Những người có nguy cơ bị mắc bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc bao gồm tăng huyết áp, nồng độ lipid máu cao, bệnh đái tháo đường, hút thuốc lá và bệnh cườm nước. Chính vì vậy, do yếu tố xã hội công nghiệp ở những năm gần đây, cùng với sự gia tăng của các bệnh lý toàn thân thì bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc cũng có chiều hướng tăng lên.

Theo nghiên cứu có tới 70% người bị tắc tĩnh mạch võng mạc là những người có bệnh tim mạch như tăng huyết áp, xơ cứng động mạch và bệnh tim mạch khác. Vì thế cần chú trọng điều trị những yếu tố tim mạch gây nguy cơ cho mắt.

Những bệnh làm biến đổi thành phần huyết tương, biến đổi lưu lượng máu hay biến đổi thành mạch cũng là nguyên nhân gây tắc tĩnh mạch võng mạc. Ngoài ra có khoảng 10% người bị tắc tĩnh mạch võng mạc không tìm ra nguyên nhân.

Triệu chứng của bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc

Bệnh thường xuất hiện đột ngột ở một mắt. Triệu chứng có thể đi từ nhẹ đến nặng tùy vào vị trí và mức độ tắc tĩnh mạch. Người bệnh có thể không có triệu chứng gì, chỉ cảm thấy như có một đốm đen ở một phần mắt, không ảnh hưởng thị lực.

Thông thường, người bệnh mắc bệnh sẽ đột ngột nhìn kém, cảm giác như nhìn qua lớp sương mù, như thấy có đám đen trước mắt, có thể dẫn đến thị lực giảm trầm trọng trong vài phút hoặc sau 2 – 3 ngày.

Khi khám mắt, bác sĩ sẽ tra thuốc giãn đồng tử để soi đáy mắt. Hình ảnh thu được ở mắt bệnh sẽ là tĩnh mạch võng mạc giãn không đều, động mạch có thể bị thu hẹp nếu xuất huyết võng mạc nhiều làm đáy mắt đỏ rực (đôi khi thành đám lớn).

Bên cạnh đó có thể xuất tiết bông, xốp trên võng mạc, phù võng mạc lan tỏa. Ở giai đoạn đã có biến chứng, bệnh nhân bị phù hoàng điểm dạng nang, tân mạch mống mắt, võng mạc, glocom tân mạch, xuất huyết dịch kính, teo thần kinh thị giác gây mù lòa.

Một số biến chứng có thể gặp và tiến triển làm cho thị lực càng xấu hơn: Phù hoàng điểm: gây ra giảm thị lực dai dẳng: Sự tăng sinh tân mạch tạo thành các mạch máu mới  bất thường. Điều này có thể dẫn đến bệnh cườm nước glaucoma. Bên cạnh đó, những mạch máu mới có thể vỡ gây xuất huyết.

Chẩn đoán và điều trị bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc

221028,”HOFFMAN, BONNIE”,2012-06-08,09:39:11,Color_5MP,#2,,0,3,1,1,5,2,50.0,1.45,000140C8:000216E5,00000000:00000000/#00

Khi có biểu hiện nghi ngờ các bác sĩ sẽ khám lâm sàng và đo thị lực giúp đánh giá mắt nhìn rõ như thế nào tại các khoảng cách khác nhau. Do cơ chế sinh bệnh rất phức tạp nên việc điều trị bệnh còn nhiều khó khăn và chưa có phương pháp nào giải quyết triệt để tận gốc bệnh.

Điều trị nội khoa

Mục đích: Phục hồi tuần hoàn trong các nhánh bị tắc; giảm rối loạn tính thấm và huyết động; chống xuất huyết, giảm phù nề và điều trị nguyên nhân.

Các thuốc chống đông: Heparin, các thuốc kháng vitamin K…, hiệu quả chưa được chứng minh.

Các thuốc tiêu Fibrin và tiêu cục máu đông: Streptokinase, Urokinase… sử dụng loại thuốc này có thể gây biến chứng nguy hiểm như xuất huyết dịch kính, xuất huyết não và các biến chứng hệ thống khác. Có thể dùng trong trường hợp mới tắc mạch ở người trẻ.

Dùng chất hoạt hoá plasminogen mô (tissue plasminogen activator), có tác dụng làm tiêu fibrin và tiêu cục máu đông.

Các thuốc chống kết tụ tiểu cầu và giảm độ quánh của máu: Aspirin, Dipyridamol, Pentoxifylline, Troxerutin… dùng điều trị lâu dài và đề phòng tai biến ở mắt thứ hai.

Các thuốc giảm phù nề: Acetazolamide (Diamox, Fonurit). Thuốc tiêu máu: Hyaza, tam thất.

Thuốc tăng cường thành mạch, giãn mạch và dinh dưỡng tổ chức võng mạc: Rutin C, Vitamin PP, Ucetam, Vitamin A…

Điều trị nguyên nhân

Kháng sinh phổ rộng, Corticoid nếu viêm thành mạch…

Corticoid với các bệnh chất tạo keo, bệnh Behcet…

Điều trị cao huyết áp, tăng lipid máu, bệnh tim mạch, đái tháo đường…

Điều trị quang đông laser

Mục đích là phòng biến chứng xuất hiện tân mạch và làm giảm hoặc mất phù hoàng điểm.

Chỉ định:

– Hình thái thiếu máu: Điều trị quang đông bằng Laser argon hoặc diode tất cả những vùng võng mạc thiếu tưới máu.

– Khi đã có biến chứng tân mạch võng mạc thì quang đông toàn võng mạc (trừ cực sau).

– Với hình thái phù: Điều trị nội khoa và định kỳ theo một tháng một lần, chỉ quang đông trong trường hợp xuất tiết võng mạc hình vòng (xuất tiết cứng), nguy cơ bong biểu mô thần kinh do thanh dịch.

– Với phù hoàng điểm: Chỉ định quang đông Laser trong trường hợp tắc tĩnh mạch võng mạc trên 6 tháng, thị lực không tăng hoặc giảm kèm phù hoàng điểm tăng lên.

Điều trị khác

Xuất huyết dịch kính: Nếu không tự tiêu được thì làm phẫu thuật cắt dịch kính, nếu các môi trường trong suốt bị đục, không thể làm quang đông được thì làm lạnh đông diện rộng củng mạc.

Với Glôcôm tân mạch: Phẫu thuật lỗ rò hoặc lạnh đông, điện đông kết hợp điều trị nội khoa, đôi khi phải cắt bỏ nhãn cầu nếu đau nhức kéo dài.

Phòng ngừa bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc

Tắc tĩnh mạch võng mạc có liên quan đến bệnh lý toàn thân nên người bệnh phải đến bệnh viện đa khoa khám tổng thể nhằm phát hiện và điều trị ổn định các bệnh toàn thân như tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường hay các bệnh về máu.

Cần thực hiện chế độ ăn uống khoa học, ăn các  thực phẩm ít chất béo bởi loại chất này có thể làm cho các mảng xơ vữa cứng hơn dẫn đến tình trạng tắc nghẽn dòng chảy của mạch máu và tăng nguy cơ tắc tĩnh mạch võng mạc.

Hoạt động thể chất thường xuyên giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch và tắc tĩnh mạch võng mạc cũng như duy trì được cân nặng lý tưởng.

Bỏ hút thuốc lá góp phần làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc.

Để tránh nguy cơ của bệnh lý võng mạc, những người lớn tuổi, mới trải qua tai nạn, chấn thương nghiêm trọng vùng mặt, nếu đột nhiên cảm thấy như có màng mờ che trước mắt, đốm đen hay vệt đen di chuyển dưới mắt hay điểm lóe sáng nên đi khám nhãn khoa ngay vì đây là nhóm dấu hiệu của bệnh lý bong võng mạc, có thể gây mù.

Người bị cận thị, lớn tuổi, có bệnh lý mạch máu (đái tháo đường, tăng huyết áp) nên đi khám mắt định kỳ ít nhất mỗi năm một lần hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ tại các bệnh viện mắt chuyên khoa.

Tài liệu tham khảo:

  1. https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/14206-retinal-vein-occlusion
  2. https://www.healthline.com/health/retinal-vein-occlusion
  3. https://emedicine.medscape.com/article/798583-overview
  4. https://www.webmd.com/eye-health/retinal-vein-occlusion#1
  5. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2915868/

1 COMMENT

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here