Bỏng mắt được xem là một trong những cấp cứu đặc biệt trong nhãn khoa, nhất là bỏng do hóa chất vì trong nhiều trường hợp dù điều trị tích cực, kịp thời vẫn không ngăn được nguy cơ mù lòa.

Bỏng mắt là tình trạng tổn thương mắt do nhiều loại tác nhân. Tình trạng hồi phục của mắt sau bỏng phụ thuộc rất lớn vào cách sơ cứu ban đầu ngay tại nơi bị bỏng và y tế tuyết trước.

Bỏng mắt là gì?

Bỏng mắt là một cấp cứu đáng lo ngại trong nhãn khoa do tình trạng nặng nề và thường xảy ra ở cả hai mắt, tiên lượng phụ thuộc điều trị sớm hay muộn. Ở hình thái nặng, không có phương pháp điều trị để phục hồi thị lực. Vì thế, phòng ngừa và sơ cứu là điều vô cùng quan trọng.

Theo thống kê của khoa Chấn thương Bệnh viện Mắt trung ương trong những năm gần đây, bỏng mắt xảy ra nhiều ở nam giới (85%), thường gặp ở lứa tuổi lao động từ 18 – 55 tuổi (chiếm 49%), trẻ em và học sinh cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể là 30%. Trong đó 78% là những người sống ở nông thôn.

Tác nhân gây bỏng

Có nhiều loại tác nhân có thể gây tổn thương cho mắt:

Bỏng nóng

Bỏng do hoả hoạn, do gang thép nóng chảy bắn vào mắt hoặc do nước sôi, dầu mỡ rán nóng…

Khi tác nhân có sức nóng như lửa, khói, nước sôi, dầu rán… tác động vào mắt, lập tức mi mắt sẽ nhắm lại để che chở cho nhãn cầu nên bỏng mắt thường nhẹ.

Cần khám một cách hệ thống để đánh giá mức độ bỏng toàn thân. Điều trị toàn thân là chủ yếu, điều trị tại mắt chỉ là phối hợp. Tra mắt thuốc kháng sinh và những thuốc có tác dụng tăng cường dinh dưỡng.

Bỏng do bức xạ

Các loại tia bức xạ có thể gây bỏng mắt rất nặng, đặc biệt là những bức xạ ion hoá như tia g, tia X, hoặc những tia mang năng lượng như tia laser.

Tia cực tím cũng có thể gây bỏng mắt nhưng thường không nghiêm trọng. Tia hồng ngoại không gây bỏng mắt nhưng nếu tiếp xúc lâu ngày sẽ gây đục thể thuỷ tinh.

Bỏng mắt do những bức xạ ion hóa

Có thể gặp bỏng mắt do tia g, tia X ở những bệnh nhân được điều trị tia xạ những khối u vùng hàm mặt, ở những nạn nhân của những vụ nổ hạt nhân hoặc rò rỉ phóng xạ từ lò phản ứng của nhà máy điện nguyên tử.

Tổn thương mắt thường rất nặng. Giác mạc khô nhuyễn do các tế bào sinh trưởng, tái tạo giác mạc đều bị tia xạ tiêu diệt. Sau đó là tổn thương bội nhiễm gây hoại tử thủng giác mạc dẫn đến nhiễm trùng tổ chức nội nhãn. Cuối cùng thường phải bỏ nhãn cầu.

Bỏng mắt do tia laser

Bản chất của laser là một chùm ánh sáng đơn sắc mang năng lượng (Light Aplification by Stimulated Emission of Radiation), nó có khả năng xuyên qua những môi trường trong suốt và những mô không có sắc tố.

Khi đến lớp biểu mô sắc tố của võng mạc chùm tia laser bị hấp thụ, năng lượng ánh sáng (quang năng) chuyển thành nhiệt năng gây bỏng làm đông đặc protein trong tế bào và làm chết tế bào.

Sau đó các tế bào xơ sẽ phát triển thay thế để lại tổ chức sẹo. Như vậy tia laser gây bỏng võng mạc không có khả năng phục hồi. Khi ta nhìn lâu vào mặt trời, trong những dịp có nhật thực, mắt sẽ hấp thụ một lượng lớn những tia sáng mang năng lượng.

Hậu quả là sau đó bệnh nhân thấy mắt tối sầm, chảy nhiều nước mắt, khám võng mạc thấy vùng võng mạc trung tâm phù dày lên. Cuối cùng tổn thương để lại sẹo dẫn đến ám điểm trung tâm trong thị trường.

Bỏng mắt do tia cực tím (tia tử ngoại)

Tia cực tím có nhiều ở bãi biển, trên những ngọn núi tuyết, được phát ra từ ánh sáng hồ quang và thậm chí cả từ một vài loại đèn được sử dụng chiếu sáng sân khấu.

Sau khi tiếp xúc với một lượng lớn tia cực tím khoảng 2 – 6 giờ bệnh nhân thấy hai mắt đau nhức dữ dội, nước mắt chảy nhiều, cảm giác chói mắt, sợ ánh sáng không mở được mắt. Khám thấy mi mắt co quắp, giác mạc tổn thương nông, bắt màu fluorescein dày đặc nhưng không có tổn thương đáy mắt.

Xử trí bằng tra thuốc tê bề mặt 5 phút / 1lần cho đến khi bệnh nhân mở được mắt tự nhiên. Sau đó bằng kín mắt với thuốc mỡ kháng sinh cho mắt nghỉ ngơi, tránh những tiếp xúc cơ giới. Biểu mô giác mạc sẽ tái tạo hoàn toàn sau 24 giờ.

Bỏng hoá chất

Hoá chất là tác nhân gây bỏng thường gặp nhất và cũng là tác nhân gây bỏng nặng nề nhất. Chất gây bỏng có thể là axít như axít sulfuric H2SO4, axít clohydric HCl hay bazơ như xút ăn da NaOH, vôi Ca(OH)2.

Ngoài ra một số dung môi hữu cơ cũng có thể gây bỏng mắt rất nặng như benzen C6H6, cồn ethylic C2H5OH, axeton…

Bỏng mắt do axít thường gặp ở những cơ sở sản xuất ắc qui, mạ kim loại, đôi khi là do bị  người khác cố ý tạt axít vào mắt. Bỏng do xút thường gặp ở những cơ sở sản xuất đồ nhôm, nấu xà phòng.

Bỏng do vôi hay gặp trong sinh hoạt hoặc trong xây dựng. Bỏng do benzen có thể gặp ở cơ sở sản xuất cao su. Tất cả những hoá chất trên đều có thể là tác nhân gây bỏng trong các tai nạn ở phòng thí nghiệm.

Triệu chứng của bỏng mắt

Triệu chứng cơ năng

Ngay sau tai nạn bệnh nhân thấy đau buốt hoặc cay xè trong mắt. Đồng thời mắt nhìn mờ hẳn đi, không nhận ra người thân và cảnh vật xung quanh. Những dấu hiệu kèm theo thường thấy là chảy nước mắt giàn dụa, chói mắt sợ ánh sáng, không mở được mắt.

Trạng thái toàn thân thường kích động lo lắng, hoảng hốt và đau đớn.

Triệu chứng thực thể

Cần khám mắt một cách hết sức khẩn trương. Sẽ khám mắt một cách tỷ mỷ, đánh giá các tổn thương một cách đầy đủ sau khi tiến hành sơ cứu, hoá chất trong mắt đã được loại trừ.

Mi mắt

Nếu bỏng mắt do axít đậm đặc mi mắt thường tổn thương rất nặng, da mi hoại tử cháy xém có khi hoại tử sâu toàn bộ chiều dày mi. Nếu bỏng mắt do a xít nồng độ trung bình hoặc do chất kiềm hay do các loại hoá chất khác mi mắt thường tổn thương nhẹ hơn. Da mi phỏng rộp hoặc tấy đỏ. Nhẹ hơn nữa chỉ thấy da mi tái nhợt đi.

Co quắp mi là dấu hiệu thường thấy chứng tỏ có tổn thương của giác mạc kèm theo.

Kết mạc

Có nhiều tổn thương mức độ khác nhau:

Tổn thương kết mạc mức độ nhẹ: kết mạc cương tụ xung huyết, nhìn mắt có màu đỏ.

Tổn thương kết mạc mức độ trung bình: kết mạc phù vừa phải, ít khi phù mọng phòi ra ngoài khe mi.

Tổn thương kết mạc mức độ nặng: kết mạc phù và xuất huyết. Xuất huyết chứng tỏ sự thiếu máu của kết mạc do tắc mạch hoặc tổn thương thành mạch, lúc khỏi kết mạc có nhiều tân mạch.

Tổn thương kết mạc mức độ đặc biệt nặng: kết mạc bị hoại tử. Dùng kim hoặc kéo rạch kết mạc không thấy đau và chảy máu, dấu hiệu Amsler.

Giác mạc

Tổn thương bỏng trên giác mạc cũng có bốn mức độ như trên kết mạc:

Tổn thương mức độ nhẹ: tổn thương nông ở biểu mô, giác mạc bắt màu fluorescein rải rác.

Tổn thương mức độ trung bình: cũng chỉ là tổn thương nông nhưng rộng hơn mức độ trên. Biểu mô trợt thành đám rộng bắt màu fluorescein. Khi biểu mô bong toàn bộ nếu khám không kỹ có thể nhầm là thử nghiệm fluorescein âm tính.

Tổn thương mức độ nặng: tổn thương đã sâu đến nhu mô. Giác mạc phù đục, màng descemet giãn ra tạo thành những nếp.

Tổn thương đặc biệt nặng: giác mạc đục trắng như sứ, không nhìn thấy tiền phòng và mống mắt.

Các bước sơ cứu cơ bản khi bị bỏng mắt

Tiên lượng của mắt bị bỏng phụ thuộc vào sơ cứu, cấp cứu ở những giây phút ban đầu sau bị bỏng. Do đó, việc xử trí cấp cứu ở nơi xảy ra tai nạn là điều cần được hiểu rõ. hướng dẫn cho cộng đồng.

Việc đầu tiên loại trừ tác nhân gây bỏng ra khỏi mắt bằng cách rửa mắt với nhiều nước và kéo dài bằng huyết thanh sinh lý, nước sạch. Trong điều kiện không có nước sạch thì phải chấp nhận nước không sạch: nước ao, hồ, ruộng….

Tác dụng của việc rửa mắt không chỉ loại trừ tác nhân gây bỏng ra khỏi mắt mà còn giảm nồng độ của hóa chất gây bỏng, kiểm kê được tổn thương, hạn chế các di chứng về sau.

Để rửa mắt đúng cách, người bị bỏng ngâm mặt –  mắt xuống nước và cố gắng chớp mắt thật nhiều lần trong nước để nước lưu thông toàn bộ bề mặt mắt.

Những người khác có thể giúp người bị bỏng mắt rửa mắt bằng cách dùng vòi, gáo, xô, chậu… để đổ nước vào trong mắt bệnh nhân trong tư thế nằm ngửa, mắt mở chủ động hoặc người khác phải vành mi giúp.

Lượng nước rửa ít nhất là vài lít, thời gian rửa ít nhất từ 10 – 15 phút.

Tuyệt đối không được rửa mắt bằng dung dịch trung hòa axit bằng bazơ khiến tình trạng bỏng càng nặng hơn.

Việc rửa mắt tại nơi xảy ra tai nạn là biện pháp đơn giản giúp tác nhân gây bỏng không còn lại ở bề mặt nhãn cầu và các túi cùng kết mạc để xâm nhập vào các tổ chức bên trong mắt, bảo tồn chức năng sinh lý của mắt. Cách sơ cứu này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị bỏng mắt.

Khi chuyển bệnh nhân đến các bệnh viện mắt chuyên khoa chống chỉ định băng mắt mà chỉ che mắt. Đối với những trường hợp bỏng do vôi, cần gắp vôi cục ra khỏi mắt trước khi rửa.

Khi đến bệnh viện, bệnh nhân sẽ được rửa mắt bằng các dung dịch đặc biệt nhằm đảm bảo không còn hóa chất kết dư trong mắt.

Khi đưa bệnh nhân tới viện, người nhà nên mang theo chai lọ và nhãn mác dung dịch, hóa chất gây chấn thương đến bệnh viện để bác sĩ nhận biết nhanh được loại hóa chất gây bỏng để có hướng xử trí nhanh nhất, chính xác và hiệu quả nhất.

Điều trị bỏng mắt

Sau khi sơ cứu, bệnh nhân được đo pH mắt ngay lập tức. Nếu pH chưa trung tính cần tiếp tục rửa mắt bằng dung dịch đẳng trương đến khi pH = 7. Nếu tổn thương đã ngấm sâu có thể rửa mắt liên tục bằng cách nhỏ giọt vào mắt qua hệ thống dây truyền, đồng thời phải tiến hành rửa sạch lệ đạo tránh viêm dính về sau.

Chống viêm: phản ứng viêm ở mắt làm tăng lượng men phá hủy collagen dẫn đến nhăn giác mạc, vì vậy cần được kiểm soát sớm. Thuốc chống viêm thường dùng nhất là Costicoid toàn thân và tại chỗ, đặc biệt trong 10 ngày đầu. Sau đó cần được thay thế bằng non-steroid, atropin 1% cũng góp phần giảm đau, chống viêm, chống dính mi

Chống hoại tử giác mạc: thường xảy ra từ 7 đến 21 ngày sau bỏng do các men phân hủy protein, vì vậy cần có biện pháp ức chế men này. Dùng thuốc toàn thân hoặc tại chỗ.

Chống nhiễm khuẩn: Khử sạch toàn thân và tại chỗ. Đặc biệt Tetracyclin vừa có tác dụng kháng khuẩn vừa có tác dụng ức chế men collagenase

Phòng dính mi cầu bằng cách tra mỡ kháng sinh vào cùng đồ trên và dưới, day nhiều lần trong ngày hoặc đặt khuôn chống sính vào ngày thứ 2 – 3 sau bỏng. Tuy nhiên ở nhiễm bỏng nặng đặc biệt, người ta chấp nhận dính mi cầu để tăng nguồn nuôi dưỡng cho bán phần trước.

Tăng cường dinh dưỡng kết giác mạc bằng cách tra mắt với chế phẩm có chứa vitamin nhóm A, B, C hoặc tiêm huyết thanh tự thân dưới kết mạc. Tăng cường khẩu phần ăn giàu protein và vitamin, uống nhiều nước để thải trừ độc. Một số trường hợp có thể khâu co mi tạm thời.

Có thể dùng thuốc giảm đau và an thần theo đường tại chỗ và toàn thân cùng các liệu pháp tâm lý, an ủi, động viên bệnh nhân.

Trong những trường hợp bị bỏng nặng có thể được chỉ định phẫu thuật cấp cứu.

Di chứng của bỏng mắt

Bỏng mắt để lại nhiều di chứng rất phức tạp, các bệnh về mắt do bỏng mắt nhiều khi không thể khắc phục được:

Mi mắt: sẹo co kéo gây lộn mi, lông quặm, lông xiêu đòi hỏi phải phẫu thuật.

Lệ đạo: tắc lệ đạo.

Dính mi-cầu: hình thành cầu xơ dính chặt kết mạc nhãn cầu với kết mạc mi làm cho cả mi mắt và nhãn cầu đều không cử động được.

Sẹo giác mạc: làm giảm hoặc mất thị lực. Có thể ghép giác mạc về sau nếu điều kiện cho phép.

Cách phòng tránh bỏng mắt

Đeo kính bảo hộ khi làm việc với hóa chất độc hại tại nơi làm việc và kể cả khi ở nhà.

Giáo dục ý thức đề phòng tai nạn chấn thương mắt cho tất cả mọi người đặc biệt ở lứa tuổi học sinh, người lao động.

Cải thiện điều kiện lao động và tăng cường bảo hộ lao động cho công nhân: Trong các nhà máy, xí nghiệp, phòng thí nghiệm sử dụng các hóa chất cần phải đeo kính bảo vệ mắt. Cần tổ chức cấp cứu đầy đủ, có vòi nước, thùng nước và nước sạch để rửa mắt.

Giữ các hóa chất độc hại xa trẻ em.

Không để lẫn lộn thuốc nhỏ mắt với các loại thuốc nước khác. Trước khi nhỏ thuốc vào mắt phải coi nhãn thuốc cẩn thận.

Cẩn thận với lửa, không nhìn trực tiếp vào mặt trời.

Tại những nơi tôi vôi phải được rào cọc xung quanh và phải có biển báo nguy hiểm.

Tài liệu tham khảo

  1. https://www.aao.org/eye-health/symptoms/burning-eyes
  2. https://www.allaboutvision.com/conditions/burning-eyes.htm
  3. https://www.medicalnewstoday.com/articles/321739.php
  4. https://www.healthline.com/health/burning-eyes-home-remedy
  5. http://www.benhvien103.vn/vietnamese/bai-giang-chuyen-nganh/mat/bong-mat/965/
  6. http://vnio.vn/bong-mat-cach-phong-tranh-va-dieu-tri

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here